Bạn đang ở đây

Tiềm năng của tỉnh Bắc Giang

- Bắc Giang có vị trí địa lý thuận lợi, nằm ở khu vực chuyển tiếp từ vùng Trung du và Miền núi phía Bắc đến vùng đồng bằng Sông Hồng, thuộc vùng thủ đô Hà Nội và nằm trên hành lang kinh tế Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Tỉnh có hệ thống giao thông tương đối thuận lợi với hệ thống đường bộ, đường sắt và đường sông; đường bộ gồm các quốc lộ 1A cũ và mới, Quốc lộ 31, Quốc lộ 37, Quốc lộ 279, Quốc lộ 17; các tuyến đường sắt: Hà Nội - Lạng Sơn, Quảng Ninh - Kép - Thái Nguyên; đường sông với 3 con sông lớn trên địa bàn là sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam đảm bảo kết nối thuận lợi với cảng hàng không quốc tế Nội Bài, cảng nội địa Gia Lâm, cảng nước sâu Cái Lân, cảng Hải Phòng, các cửa khẩu quốc tế trên biên giới Lạng Sơn và các tỉnh trong khu vực.

          Ngoài ra, Bắc Giang cách không xa các trung tâm công nghiệp, đô thị lớn cuả “Tam giác kinh tế phát triển”: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, nơi tập trung tiềm lực khoa học kỹ thuật của cả nước, nơi tập trung đầu mối kinh tế đối ngoại, giao lưu kinh tế, khoa học, công nghệ, thu hút đầu tư của cả nước, nơi tập trung đông dân cư, với tốc độ đô thị hoá nhanh và là thị trường tiêu thụ lớn sẽ là điều kiện thuận lợi để Bắc Giang phát triển kinh tế - xã hội.

          - Bắc Giang có địa hình đa dạng (cả đồng bằng, trung du và miền núi) là thuận lợi để phát triển nền nông nghiệp đa dạng sinh học, với nhiều cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế, đáp ứng được nhu cầu đa dạng của thị trường. 

          - Trong tỉnh có huyện Lục Ngạn, một phần huyện Lục Nam có lượng mưa thấp, ít sương muối, mưa xuân đến muộn hơn, độ ẩm không khí không quá cao, lượng bức xạ nhiệt trung bình, đó là những yếu tố thuận lợi tạo điều kiện cho cây ăn quả (nhất là vải thiều) đậu quả tốt hơn khi ra hoa thụ phấn.

          - Tỉnh Bắc Giang có 6 nhóm đất với 15 loại đất chính, phù hợp với nhiều loại cây trồng như lúa, ngô, lạc, khoai, rau, cây ăn quả, đặc biệt là vải thiều, cây có múi ... với diện tích đất nông, lâm nghiệp 273.857 ha, chiếm 71,24% tổng diện tích tự nhiên, là điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp với nhiều loại cây trồng đa dạng.

          - Đến năm 2014, Bắc Giang có 146.435 ha đất lâm nghiệp, trong đó đất rừng là 131.475 ha, đất chưa có rừng là 14.960 ha; với 3 loại rừng sản xuất có diện tích lớn nhất, chiếm 69,8%; rừng phòng hộ, chiếm 10,9% và rừng đặc dụng chiếm 9,4% là điều kiện tốt để bảo vệ môi trường; khai thác phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội.

          - Trên địa bàn tỉnh đã phát hiện và đăng ký được 63 mỏ với 15 loại khoáng sản khác nhau gồm than, kim loại, khoáng sản và vật liệu xây dựng, cụ thể: Than đã xác định trữ lượng 8 mỏ tại các huyện Yên Thế, Lục Ngạn, Sơn Động, Lục Nam, với trữ lượng hơn 114 triệu tấn, gồm các loại than antraxit, than gầy, than bùn. Một số mỏ hiện đang khai thác như Đồng Rì (Sơn Động), Nước Vàng (Lục Nam), Bố Hạ (Yên Thế). Riêng mỏ than Đồng Rì có trữ lượng lớn (107,3 triệu tấn), có khả năng khai thác quy mô công nghiệp quốc gia.

          Khoáng sản vật liệu xây dựng có 16 mỏ khoáng sét với trữ lượng khoảng 360 triệu m3 ở các huyện Việt Yên, Lục Nam, Lạng Giang, Yên Thế, Hiệp Hoà. Phát hiện 5 mỏ chứa cát, cuội, sỏi tập trung tại Yên Dũng, Việt Yên, Hiệp Hòa (cát là 4.550 nghìn m3, cuội sỏi là 91.200m3).

          Tỉnh cũng có tiềm năng lớn về khoáng sét sử dụng làm gạch ngói, với 16 mỏ và điểm mỏ, tổng trữ lượng khoảng 360 triệu m3, chủ yếu ở các huyện: Việt Yên, Lục Nam, Lạng Giang, Yên Thế, Hiệp Hoà; trong đó, có 100 triệu m3 sét làm gạch chịu lửa ở Tân Yên, Việt Yên và sỏi, cuội kết ở Hiệp Hoà, Lục Nam.

          Đến nay phát hiện 6 mỏ tập trung tại các huyện Tân Yên, Hiệp Hòa, Lạng Giang, trong đó có 4 mỏ ba rít có trữ lượng 567 nghìn tấn với chất lượng tốt; 01 điểm mỏ Kaolin tại ở xã Trí Yên- huyện Yên Dũng, trữ lượng tài nguyên dự báo khoảng 13 triệu m3; 01 điểm mỏ Fenspat tại Ngọc Sơn- Hiệp Hoà, trữ lượng 591,5 nghìn tấn.

          - Bắc Giang còn có hệ thống di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật đặc sắc là điều kiện thuận lợi để khai thác, phát triển du lịch văn hóa, lịch sử, sinh thái, nghỉ dưỡng. Bắc Giang có hệ thống đình, chùa phong phú và đa dạng với khoảng trên 2.200 di tích được, trong đó có 635 di tích được xếp hạng (gồm: 518 di tích cấp tỉnh; 117 di tích cấp quốc gia, trong đó có 23 di tích cấp quốc gia đặc biệt), nhiều công trình văn hóa và kiến trúc nghệ thuật đặc sắc, nổi tiếng trong đó, một số di tích, công trình có khả năng khai thác để phát triển du lịch như chùa Vĩnh Nghiêm (Yên Dũng) là chốn tổ thiền phái Trúc Lâm do Phật hoàng Trần Nhân Tông sáng lập thế kỷ XIII, nơi lưu giữ kho Mộc bản với 3.050 bản đã được vinh danh là Di sản Tư liệu ký ức thế giới khu vực Châu Á - Thái Bình Dương; chùa Bổ Đà, đình, chùa Thổ Hà (Việt Yên); chùa Quang Phúc, đình Tiên Lục, Lạng Giang có cây Dã Hương nghìn năm tuổi, chùa Am Vãi, Lục Ngạn, đình Lỗ Hạnh được mệnh danh là đệ nhất kinh Bắc thế kỷ 16, lăng Dinh Hương ...

          Di tích lịch sử Quốc gia Những điểm khởi nghĩa Yên Thế, di tích lịch sử thành cổ Xư­ơng Giang được xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia; 16 xã thuộc huyện Hiệp Hòa được công nhận là An toàn khu (ATK) II trong thời kỳ trước Cánh mạng tháng Tám.

          Bắc Giang có dân ca Quan họ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, ca Trù đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp; hát si, hát lượn và một số làn điệu dân ca và lễ hội cùng với nếp sống văn hóa của đồng bào các dân tộc; làng nghề truyền thống.

          Bắc Giang có nhiều lễ hội gắn với sinh hoạt cộng đồng và được tổ chức tại các các công trình văn hóa, di tích và các trung tâm sinh hoạt cộng đồng, với nhiều trò chơi và loại hình văn nghệ dân gian. Ngoài ra còn có các lễ hội của đồng bào các dân tộc thiểu số Nùng, Tày, Sán Dìu, Cao Lan, Sán Chí, Dao và Hoa, gắn liền với ngày hội mùa màng, lễ tết của từng vùng, từng dân tộc.

          Nghề và làng nghề thủ công truyền thống của tỉnh rất phong phú, đa dạng và lâu đời.  

          Khu du lịch sinh thái suối Mỡ huyện Lục Nam, hồ Khuôn Thần, hồ Cấm Sơn huyện Lục Ngạn với diện tích mặt nước 2.600 ha và khu du lịch Đồng Thông gắn liền khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, khu rừng nguyên sinh Khe Rỗ, khu Đồng Cao (Sơn Động) là những điểm đến thú vị trong mùa hè nóng nực, tại một tỉnh khá xa biển, tạo không gian du lịch hấp dẫn.

- Kinh tế của tỉnh duy trì được tốc độ tăng trưởng khá và cao hơn trung bình cả nước; cơ cấu một số ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; thu hẹp dần khoảng cách GRDP bình quần đầu người so với cả nước. Sản xuất công nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng khá; sản xuất nông nghiệp ổn định, cơ cấu ngành chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi; bước đầu đã hình thành một số vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung với một số sản phẩm có thương hiệu; kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh; tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng  khá, thu ngân sách nhà nước hàng năm đều đạt và vượt kế hoạch đề ra; hệ thống kết cấu hạ tầng từng bước được hoàn thiện đáp ứng tốt hơn các yêu cầu phát triển KT-XH.

- Bắc Giang có thế mạnh về dân số, là Tỉnh có dân số đông, lực lượng lao động khá lớn với trên 1 triệu lao động, trong đó tỷ lệ lao động nông thôn, lao động có nhu cầu giải quyết việc làm hàng năm là rất lớn, khoảng 30.000 lao động, đây là nguồn lực lao động giá rẻ, cần cù, có tố chất khéo léo, rất quan trọng để thu hút đầu tư. 

- Các lĩnh vực xã hội có bước phát triển và đạt được một số kết quả nổi bật. Tỉnh luôn nằm trong nhóm 20 tỉnh, thành phố có thành tích cao trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp quốc gia, thi đại học, cao đẳng; Công tác khám bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, công tác dân số, gia đình, trẻ em có tiến bộ; các chế độ chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời; công tác giảm nghèo đạt kết quả khá, tỷ lệ hộ nghèo giảm khá nhanh so với các tỉnh trong khu vực; đời sống nhân dân ổn định; chất lượng nguồn nhân lực từng bước được nâng lên. Công tác bảo vệ môi trường đạt được một số kết quả tích cực, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm.